07 tháng 6 2011

Miền Nam dưới thời ngụy là 'giàu nhất châu Á'

Mỹ giàu nhất thế giới cộng với sức mạnh của một nước 'giàu nhất châu Á' mà không ngăn chặn được CS ở một nửa miền Nam thì hóa ra CS là thánh thật à?! Hãy thử tưởng tượng sức mạnh kinh tế của Mỹ và Nhật ngày xưa cộng lại thì nó sẽ là như thế nào?
Là một nước 'giàu nhất châu Á', nếu không tự sản xuất được vũ khí thì ngụy cũng phải có tiền mua chứ? Đằng này Mỹ dứt bình sữa viện trợ ra là tắt thở ngay là thế nào?!
Nếu giàu có và làm kinh tế có hiệu quả thì người ta đã tranh nhau đầu tư cho vay tiền chứ sao ngay cả Mỹ cũng bỏ của chạy lấy người là sao? Không lẽ tư bản Mỹ và thế giới ngu đến nỗi có tiền mà chẳng ai biết kiếm?!...
Kinh tế VNDCCH thôi thì mủi lòng bỏ qua. VNDCCH ra đời với di sản 1,2 triệu bạc Đông Dương rách nát và 2 triệu người chết đói . Tiền Ông Cụ trên danh nghĩa là dấu ấn độc lập tự chủ nước nhà; thực tế nó chỉ là nắm giấy lộn vật vã tìm đường sống giữa đám quốc tệ - quan kim hỗn xược theo chân quân giải giáp Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc và chết đuối không sủi tăm dưới xấp đầm xòe Ngân Hàng Đông Dương ngạo mạn khoác áo Thập Tự Chinh.
VNCH hoài thai bên hông súng đạn nước Mẹ Đại Pháp trong suốt 9 năm VNDCCH kháng chiến xác xơ tổ đỉa. Ngày lành tháng tốt, Việt quốc (gia) ra đời trong vòng tay âu yếm của người cha tỉ phú Mỹ, dưới lá Cờ Hoa bách chiến bách thắng cả 2 WW. Trong 20 năm tồn tại từ 1955 đến 1975, Mỹ viện trợ kinh tế cho VNCH gần 8 tỷ đô để dựng nước và viện trợ quân sự 16,762 tỉ đô để giữ nước. Ấy là chưa kể đến chi tiêu tại chỗ của lính Mỹ, hàng năm đã đổ thêm cả tỷ đô vào miền Nam Việt Nam. Đấy mới là số lẻ nói chơi, chưa bao gồm các khoản khác tổng cộng lên tới 950 tỷ đô (thời giá 2011) để sao cho VNCH xứng đáng là bang thứ 51 của Mỹ như Philippines đã từng. Trên Wiki, "Kinh tế Việt Nam Cộng Hòa" có ghi, GDP bình quân đầu người là 150USD, cao hơn Thái - Mã - Nam Triều Tiên.

Sunday, May 1, 2011


Nhân ngày 30/4, đọc lại vài dữ liệu cũ


http://en.citizendium.org/images/thumb/0/0f/South_vietnam_ethnic_1972.jpg/180px-South_vietnam_ethnic_1972.jpgThấm thoát mà đã 36 năm. Tính từ ngày 30/4/1975. Nhân dịp đọc một cuốn sách cũ, tôi thấy có vài thông tin về kinh tế của miền nam Việt Nam trước 1975 cũng có ý nghĩa so sánh nào đó ...
Về thu nhập bình quần, theo số liệu kinh tế, GDP bình quân ở miền Nam vào thời trước 1975 là 150 USD.  Thu nhập này tuy chưa cao mấy thời đó, nhưng cao hơn ở các nước Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, và Pakistan.  Ba mươi sáu năm sau, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là khoảng 1100 USD, thua xa Thái Lan (khoảng 4000 USD).

Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. Hiện nay, tỉ lệ dân số biết đọc và viết là 90%.  Ba mươi sáu năm, chỉ tăng 20%?

Hôm nọ, khi tôi viết rằng thời trước 1975, du học sinh Thái Lan sang đại học miền Nam học, còn bây giờ thì mình sang đó ... du học. Chẳng có gì xấu hổ. Người ta giỏi hơn mình thì mình học người ta.  Nhưng nói ra sự thật ấy làm tôi nao lòng và buồn về sử đổi đời. Có người từ miền Bắc hỏi tôi có bằng chứng gì giáo dục miền Nam tốt hơn bây giờ? Tôi nói chính tôi là sản phẩm của nền giáo dục thời trước 1975 đây.  Còn hàng vạn "sản phẩm" của nền giáo dục trước 1975 đang ở nước ngoài và họ cũng thành danh, thành tài. Đó là một bằng chứng của nền giáo dục trước kia.

Về trình độ của giới cầm quyền, 36 năm sau nước ta đã có 50% bộ trưởng có văn bằng tiến sĩ.  Thời trước 1975, tôi không có con số chính xác, nhưng chỉ nhớ số bộ trưởng có bằng tiến sĩ chỉ đếm đầu ngón tay.  Ngay cả ông Hoàng Đức Nhã với bằng thạc sĩ nhưng được giới báo chí và công chúng nể lắm rồi.  Nhưng theo Giáo sư Đặng Phong thì tuy họ học không cao, nhưng trình độ thật thì cao và đáng nể:  “Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm ... Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm ... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Ngày xưa (thời VNCH) cũng có tham nhũng, nhưng hình như bản chất hơi khác với thời nay.  Ngày xưa, giới quan chức VNCH tham nhũng chủ yếu là ăn chận tiền tài trợ của Mĩ.  Thật ra, tham nhũng của VNCH là có lợi cho cách mạng, vì lợi dụng đó mà du kích mới có tiếp viện!  Tham nhũng thời VNCH theo Gs Đặng Phong là “một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng”.  Còn ngày nay, cứ như báo chí phản ảnh thì quan chức ăn chận tiền của … dân.  Họ cũng ăn chận (hay ăn cắp?) tài nguyên đất nước.  Hình thức tham nhũng nào cũng nguy hiểm, nhưng ăn chận tiền dân và tài nguyên quốc gia thì đúng là nguy hiểm và […].  Giáo sư Đặng Phong nói: “Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn.

Ngày 30/4 thường được nhắc đến như là một “ngày chiến thắng”, “ngày giải phóng miền Nam”.  Đứng trên quan điểm kẻ thắng người thua, thì chắc cũng có lí do để gọi đó là ngày chiến thắng.  Nhưng thử hỏi với cả 4 triệu (?) người phải bỏ mạng trong cuộc chiến đó, cộng thêm hàng trăm ngàn bỏ mạng trên biển, và 3 triệu người lưu vong, thì chiến thắng đó có vẻ vang không?  Chẳng lẽ ăn mừng chiến thắng trên xác người?  Còn giải phóng thì có nghĩa là giải phóng từ nô lệ, gông cùm của bọn đế quốc, nhưng trong thực tế ngày xưa đâu có nô lệ, và bọn đế quốc Mĩ cũng đâu có gông cùm gì; chúng vẫn phát triển giáo dục tốt, hệ thống y tế tốt, kinh tế gia đình khá no ấm, học trò lễ phép, báo chí nói khá thoải mái (diễu cợt ông Thiệu, ông Kỳ liên miên).  Do đó, hai chữ “giải phóng” e rằng không thích hợp với thực tế của những con số vừa trình bày.

Hóa ra, thời trước 1975 cũng không đến nổi tệ, nếu không muốn nói là có nhiều khía cạnh tốt hơn hẳn ngày nay. Nhớ có lần bà con tôi là bộ độ tập kết vào tiếp quản miền Nam, các chú và cậu đem mấy con gà và vài lít gạo cho nhà tôi, vì tưởng tụi tôi đói khát lắm và nghèo lắm. Đến khi lên nhà, bà con tôi hết sức ngạc nhiên vì họ không ngờ tôi có xe Honda lại còn đeo đồng hồ 2 cửa sổ không người lái nữa chứ, còn gia đình tôi có độ 100 công đất và 3 chiếc máy cày!  Vài năm sau, tôi mất cái Honda, và lưu lạc xứ người, còn gia đình thì còn đúng 5 công đất. Ba mươi sáu năm mà vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiêm chỉnh để trả lại sự thật cho lịch sử. Nhưng may thay, có nghiên cứu của Gs Đặng Phong đã để lại vài dữ liệu có ý nghĩa. Xin xem bài trả lời phỏng vấn dưới đây của Gs Đặng Phong để có cái nhìn khách quan hơn về thời trước 1975.

NVT

====


Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay
Hân Hương thực hiện
Người Đô thị, Tháng 5/2008
Trong giới sử học, ông thuộc số ít viết sử kinh tế. Người như ông, GS Đặng Phong - tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế VN, còn ít hơn nữa. Ông bảo: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 phồn vinh thật nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Báo Người Đô Thị xin giới thiệu cùng bạn đọc bài phỏng vấn GS Đặng Phong, thuộc ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong chuyên đề “Sài Gòn-TPHCM năm thứ 33: Nhận định bản sắc, phát triển tiềm năng”
Ông mời tôi ăn cơm trưa: "Có cá diếc kho tương và rau muống học trò vừa mang đến. Đừng ra quán, tôi mà thấy “chúng nó” hét dzô, dzô... không nuốt nổi". Ăn lối nhà quê, nhưng ông hút xì gà và có cả một bộ sưu tập tẩu Tây sang trọng.

Người ta sợ tôi bị “mua”
Thưa, ông học kinh tế trong nước, sao lại qua Pháp giảng dạy?
- GS Đặng Phong: Tôi học ĐH Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội, rồi làm tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Đến 1988, cao trào thời kỳ đổi mới, Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) dành cho VN 2 suất học bổng Học viện Nông nghiệp Địa Trung Hải (TP Montpellier – Pháp). Trường này nổi tiếng, các tiền bối GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Phạm Huy Thông, GS Đỗ Đình Thiện... ở đó ra. Tôi cũng bất ngờ vì họ chọn mình, luận văn kết thúc khóa học của tôi là: “Chế độ thu mua thóc ở VN”, được đánh giá tốt, có lẽ vì thế ông thứ trưởng Bộ Giáo dục Pháp mời tôi ở lại giảng ở trường ĐH Paris VII.
Nghe nói ông từng bị “đả đảo” ở Mỹ?
- Việc tôi du học Pháp, được họ giữ lại giảng dạy là “chuyện động trời” đối với một trí thức xã hội chủ nghĩa. Thêm chuyện trường ĐH Irvine (bang California - Mỹ) mời tôi từ Pháp qua luôn với họ, dư luận xôn xao rằng tôi đã “bị phương Tây mua rồi”. Ngại bị hiểu lầm, nên sau khi trao đổi thẳng thắn với một cán bộ đại sứ quán ta ở Pháp, tôi quyết định trở về nước. Rồi từ VN tôi mới qua Mỹ vào năm 1991.

Buổi giảng đầu tiên tại Irvine “Thực trạng kinh tế VN” khá ồn ào vì bị một số Việt kiều biểu tình “đả đảo”, đòi “Đặng Phong hãy nói về nhân quyền!” Họ đòi bằng được phải có đại diện vào giảng đường chất vấn. Tôi đồng ý, có ba người xấn vào nóng nảy lên án tình trạng tham nhũng ở VN và chính quyền tham quyền cố vị. Về tham những, tôi nói đúng có tham nhũng - nhưng chính quyền Sài Gòn trước kia tham nhũng gấp 10 lần cơ. Tôi làm sử kinh tế, có đầy đủ số liệu chứng minh, họ chịu. Còn tham quyền cố vị, thì chính quyền Thiệu, Kỳ... không hề muốn xuống ghế. Vì bản chất người cầm quyền có ai chịu tự nguyện rời chức vụ đâu? Tôi cũng chỉ là một công dân, có nguyện vọng chính quyền không nên tham quyền, và được bày tỏ nguyện vọng đó như mọi công dân khác.

Sau này trở thành bạn bè, thỉnh thoảng qua Mỹ tôi lại gặp họ trò chuyện. Tôi có một kinh nghiệm rằng đừng nổi nóng, đừng vội quy kết ta-địch, mình có sai lầm thì thừa nhận, sửa chữa - sự tử tế là cách thuyết phục nhau tốt nhất.

Nhặt tiền lẻ xây được nhà lầu?
Năm 1975 ở R về Sài Gòn, khá “choáng váng” trước cảnh phồn vinh của đô thị này, tôi được nghe giải thích sự phồn vinh ấy chỉ là giả tạo?
- Phồn vinh là thật đấy! Miền Nam VN dân số trước 1975 chừng 17 triệu, trừ số dân thuộc vùng giải phóng, còn khoảng 8 triệu người. Sở dĩ họ giàu là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính.

Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào Nam VN 1 tỉ USD. Con số đó không thấm tháp gì so với vốn nước ngoài bây giờ đầu tư vào VN – nhưng xin nhớ dân số VN nay khoảng 84 triệu. 1 tỉ USD chia bình quân cho 8 triệu người, vẫn là lớn. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính - thu nhập của họ rất cao. Cấp thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.

Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi vô khối ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí... là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam làm gì có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.

Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800 USD/tháng. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Câu “nhất Mỹ, nhì lô, tam cô, tứ tướng” là vậy. Tôi quen một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ. Anh ta bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu và anh ấy có đến dăm cái tiệm như thế ở các quận Sài Gòn.

Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào... để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt v.v không trồng mía, bông – nhưng nhập nguyên liệu từ Indonesia, Malaysia, Nhật Bản... để sản xuất.

Có thể nói chiến tranh là bầu sữa quan trọng nhất của nền kinh tế Nam VN trước năm 1975. Nó tạo ra cuộc sống phồn vinh thật ở các đô thị miền Nam (vùng nông thôn rất nghèo khổ). Nhưng đó là nền kinh tế không nuôi nổi nó.

Bộ máy kinh tế giỏi
Không nuôi nổi nó, cần gì một bộ máy vận hành kinh tế giỏi?
-Cần phải phân biệt rõ: nền chính trị thối nát (không phải tôi nói, mà người Mỹ và người trong giới chính trị Sài Gòn nói) với bộ máy kinh tế chuyên nghiệp. Những cấp cao nhất, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng... phần lớn là dân võ biền, là lính sang làm chính trị như Thiệu, Kỳ, Khiêm..., Ngô Đình Diệm là ông quan của triều đại phong kiến. Nói chung, họ không có mấy kinh nghiệm để điều hành một xã hội dân sự văn minh. Nhưng điều đặc biệt là cấp dưới của họ (bộ trưởng, tổng trưởng...) và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn, kiến thức kinh tế - xã hội rất giỏi để vận hành khối lượng tiền, hàng cực lớn. Bằng chứng là Nam VN khi đó đã có hệ thống ngân hàng, hệ thống thuế, bảo hiểm... trình độ quốc tế, hoạt động toàn cầu. Dân đã xài séc, các công cụ tín dụng, công sở xài máy tính IBM, tổ chức nền kinh tế đã sử dụng các phương tiện hiện đại, mà bây giờ chúng ta mới chập chững tiến vào.

Theo ông, có thể kế thừa công nghệ quản lý nền kinh tế đó?
- Rất tiếc chúng ta xóa bỏ bộ máy điều hành kinh tế miền Nam nhanh quá. Tới Đại hội Đảng VI đã ghi nhận sai lầm do chủ quan, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhiều chuyên gia kinh tế đã ra đi...

Nhưng bây giờ chúng ta lại có nhiều doanh nhân làm kinh tế giỏi?
- Marx nói “Giai cấp tư sản đã tạo ra sự phát triển trong 100 - 200 năm bằng tất cả lịch sử của nhân loại”. Tức là tư sản tạo ra sự tăng trưởng. Trước kia ta đánh tư sản mại bản (xuất nhập khẩu hàng hóa), giờ ta khuyến khích xuất khẩu đồ gỗ sang Mỹ và nhập máy móc của họ. So với mại bản trước 1975, thì mại bản bây giờ (trong công nghiệp, tài chính, hàng không) quy mô lớn hơn nhiều. Sự tăng trường ấy tốt về số lượng, nhưng quản lý tồi.

Chúng ta đánh đổ giai cấp tư sản cũ, nhưng phải xây dựng được tầng lớp hữu sản mới. Sự ra đời của tầng lớp này là cần thiết, chứ với chỉ “lực lượng lao động hợp tác xã” thì chết. Nhưng đó phải là một tầng lớp hữu sản có văn hóa và có lương tâm. Con đường ra đời giai cấp này trên thế giới khác ta- bằng cách cướp bóc thuộc địa, gây chiến tranh. Ở ta, ra đời bằng cách đánh đổ giai cấp tư sản cũ - nằm trong diễn biến chung của các nước xã hội chủ nghĩa.

Tham nhũng cũng là một cách ra đời tầng lớp hữu sản cho nên đạo lý kém hơn, chụp giật hơn, lưu manh hơn...

Nhưng chính quyền Sài Gòn trước 1975 tham nhũng ghê gớm?
- Đó là một trong các nguyên nhân lớn của sự sụp đổ. Quân đội thì nhận hàng của Mỹ, tuồn ra ngoài, lợi dụng chiến tranh nhiều rủi ro không kiểm soát nổi. Chính quyền dân sự thì ăn vào các dự án, bệnh viện Vì Dân (Thống Nhất bây giờ), sân bay Tân Sơn Nhất... là vài ví dụ. Tướng tá, quan chức thầu công trình, đường sá... rồi bán thầu cho Hoa kiều. Tướng Đồng Văn Khuyên thầu hết các bãi rác quanh các căn cứ quân sự (tivi, honda, tủ lạnh cũ...) chuyển thành hàng secondhand cho dân Sài Gòn v.v... Tất nhiên sự tham nhũng ấy có lợi cho ta. Nhờ thế ta mua được xăng, gạo, thuốc men, vũ khí... Đó một nguồn hậu cần quan trọng giúp chúng ta thành người chiến thắng.

Làng Yên Phụ cổ của ông giờ nằm kẹp giữa hai con đường đang mở. Đô thị hóa đến tận nhà rồi, miếng đất 150m² này đã đưa ông thành người hữu sản?
Năm 1975 dọn từ phố ra làng, tôi mua nó giá 1,5 cây vàng. Bây giờ 7 cây vàng/m2, tài sản của tôi tăng 1.000 lần, mà không cần làm gì. Chiếm hữu thật nhiều đất đai là cũng là con đường "nâng giai cấp" của người Việt hiện nay đấy, anh bạn.


Hơn và kém xưa
Tròn 33 năm giải phóng miền Nam, GS Đặng Phong nhận xét về đời sống người dân đô thị miền Nam trước 1975 và ngày nay:
- Mức sống vật chất bây giờ rõ ràng là cao hơn trước đây rất nhiều. Thu nhập, tiện nghi, nhà cửa, phương tiện đi lại, mức ăn, mặc... đều vượt xa Sài Gòn trước đây, nếu nhìn trên bình diện chung của toàn xã hội. Riêng một số tầng lớp trên - thì ngày xưa giới thượng lưu giàu có không nhiều và cũng không giàu như những triệu phú đô la ngày nay.
- Về mức an toàn của cuộc sống thì trước đây rất kém, vì có chiến tranh. Nhà nào cũng có người đi lính, nếu muốn tránh đi lính thì phải trốn, phải chạy vạy, đút tiền. Cái chết đe dọa, rình rập tất cả các gia đình ở thành thị. Xe của cảnh binh có khi chặn ngay ở các cửa trường để bắt lính. Đến năm 1975 thì hầu như nhà nào cũng có bàn thờ một hay hai đứa con chết trận. Còn bây giờ đã có hòa bình, người ta không sợ đi bộ đội, thậm chí người ta còn chạy vạy để được đi bộ đội, để học các trường sĩ quan. Vào quân đội bây giờ không bị cái chết đe dọa mà lại được đảm bảo cuộc sống, vị trí xã hội. Trong đời sống hiện nay cũng có nhiều khía cạnh không an toàn như những vụ trấn lột, chém giết, cướp bóc... Nhưng đó chỉ là những hiện tượng cá biệt, đột xuất. Cuộc sống hằng ngày của người dân nói chung rất an toàn. Thậm chí có thể nói cuộc sống ở VN là một trong những nơi an toàn nhất thế giới. Không có khủng bố, không có phe này phái kia đánh nhau, trừng trị nhau, không có lật đổ, không có bạo loạn... Mọi người được yên ổn làm ăn.
- Cuộc sống văn hóa và tinh thần thì có thể nói thời trước có hai mặt của nó. Một mặt là sự hiện diện của quân đội Mỹ và quân đội đồng minh để lại những ảnh hưởng rất xấu trong xã hội. Đó là tệ nạn đĩ điếm, ma cô, chạy theo đồng đô la một cách khá trắng trợn. Chính người dân miền Nam thời đó cũng phản ứng rất gay gắt. Nhưng mặt khác, cuộc sống xã hội và tinh thần trong nội bộ xã hội Việt Nam, trong trường học, trong công sở, trong các gia đình, xóm giềng, bạn hữu... lại là quan hệ có nề nếp, có văn hóa. Học trò lễ phép với thầy, vợ chồng, cha con, mẹ con thương yêu gắn bó với nhau. Thời đó học trò ra đường không hỗn láo như bây giờ. Không có hiện tượng chửi thề, các quan chức cũng có chơi bời nhưng không tệ hại tới mức như một số quan chức hiện nay. Công an thời đó ít có hiện tượng chặn đường để ăn tiền mãi lộ một cách phổ biến như ngày nay. Xin giấy tờ ở cấp này cấp kia cũng không phải đút lót một cách phổ biến, đặc biệt là trong trường học thì tình trạng chạy điểm, mua điểm, ném phao, quay cóp gần như không có. Có thể nói, so với xã hội trước đây thì trên một số khía cạnh nào đó, cuộc sống văn hóa và tinh thần hôm nay đã xuống cấp nghiêm trọng... Những trí thức trước đây, công chức trong công sở là những người có tư cách, đàng hoàng, cả nói năng và hành xử rất có văn hóa. Còn bây giờ, một tỉ lệ đáng kể công chức và cả một số trí thức cũng không có được một phong độ văn hóa như trước đây.
- Các nhà kinh doanh, trước đây hầu hết là tư nhân. Ngày nay kinh doanh tư nhân cũng phát triển khá mạnh, nhưng doanh nghiệp quan trọng nhất vẫn là doanh nghiệp quốc doanh. Xét riêng khu vực tư nhân thì trước đây những nhà kinh doanh tư nhân phần lớn là những người đã có truyền thống từ nhiều đời để lại. Họ có kinh nghiệm, họ có văn hóa, họ có bạn hàng, họ có thị trường, có những quy tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh. Kinh doanh tư nhân hiện nay là một tầng lớp mới lên, đa số chưa có nhiều kinh nghiệm, không có truyền thống, mang nặng tính chất chụp giật, tạm bợ, số phận của họ cũng không ổn định.
- Về quản lý và điều hành nền kinh tế, như tôi đã nói sơ trên, cấp điều hành và các chuyên gia hàng đầu đều là những người có học vấn. Họ hiểu luật pháp quốc tế vì đã từng tu nghiệp ở Mỹ, ở Pháp. Họ có phong độ của những nhà quản lý, có kiến thức quản lý. Họ có thể tham dự các cuộc đàm phán quốc tế không cần phiên dịch. Hệ thống quản lý của ta ngày nay về mặt đó là kém hơn. Phần lớn là các cán bộ chính trị của ta tri thức về quản lý vẫn còn bất cập so với những đòi hỏi của một cơ chế kinh tế thị trường hoàn hảo. Trình độ ngoại ngữ cũng như kiến thức chung về xã hội cũng vậy. Do đó, trong sự điều hành gặp nhiều vấp váp. Tình trạng lạm phát, những ách tắc trong đời sống kinh tế như nạn kẹt xe, xây cất lung tung, tai nạn xảy ra liên tục... thể hiện sự bất cập của hệ thống quản lý hiện nay.

Đặng Phong
Nguồn: Người Đô thị, Tháng 5/2008
Trong thời đại thông tin hiện nay chúng ta có cái gọi là 'thánh gúc'.  Có một bộ óc người và 'thánh gúc' thì không khó để tìm ra dữ liệu chuyên môn nhằm kiểm chứng độ xác thực của những tuyên bố trên mạng vì như trường hợp câu nói được nhét vào mồm LQD, người dùng óc người có thể dễ dàng nhận ra sự vô lý của nó.
1- Ngưỡng đói nghèo
Nếu lấy ngưỡng nghèo tuyệt đối của WB là 1USD/ngày thì GNP per capita 150USD chưa tới 0,5USD 1 ngày ===> phồn vinh Miền Nam qua bộ ảnh Sài Gòn lộng lẫy trước 1975 là giả tạo, như lâu đài trên cát. Chính vì giả tạo nên Sài Gòn sụp đổ rất nhanh, chỉ trong vòng 1 tháng tổng tiến quân của quân Bắc Việt.
2- Tỉ giá quy đổi: 150USD là giá trị quy đổi theo tỉ giá nhà nước.
Năm 1955, tỉ giá nhà nước 35:1, chợ đen tót lên 180, gấp gần 6 lần. Năm 1966, nhà nước 118/ chợ đen gần 1.000, năm 74 685/4.000 vì khi này Mỹ đã rút quân, cắt giảm viện trợ. Đồng tiền mất giá khủng khiếp.
3- Thống kê GNP của VNCH: Con số 150USD là trung bình cộng của các năm từ 1957 đến 1963:
- So sánh hơn với Nam Triều Tiên không có giá trị vì HQ kết thúc chiến tranh năm 53 với nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, đồng won mất giá chóng mặt, từ 15w ăn 1 đô năm 45 ngã nhào xuống 6.000w năm 1962. Trong khi ấy, Sài Gòn đã có 2 năm xây dựng Thiên Đường bằng tiền bạc Mỹ.
- Thống kê thiếu mất 2 năm đầu 1955 - 1956 và 11 năm cuối từ 1964 - 1974. Vắng tổng cộng 13 năm/20 năm nên con số GNP 150USD không thể đại diện cho VNCH để kết luận miền Nam trước 1975 giàu hơn cả Nam Triều Tiên - Thái.
3- Vai trò của viện trợ Mỹ: Ttrích từ các cuốn sách:
- Đặng Phong (1991), 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Nxb. Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, Hà Nội.
- Phạm Thu Nga (2004), Quan hệ Việt - Mỹ 1939 - 1954, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội.
- Vũ Đăng Hinh (Cb), (2002), Chính sách kinh tế Mỹ dưới thời Bill Clinton, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nôi.
- Nguyễn Thái Yên Hương, (Cb), (2005), Can thiệp nhân đạo trong chính sách đối ngoại của Mỹ, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
3.1. Viện trợ của Hoa Kỳ cho thực dân Pháp và Chính phủ Bảo Đại
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ở Đông Dương mặc dù bề ngoài Hoa Kỳ giữ thái độ trung lập nhưng thực chất bên trong, quốc gia này ngày càng quan tâm và chú ý đến Việt Nam và Đông Dương. Trước sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc và nhằm ngăn chặn nguy cơ cộng sản ở Đông Nam Á, Hoa Kỳ ủng hộ Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, Hoa Kỳ và Pháp bắt tay vào xây dựng và ủng hộ các chính quyền thân Pháp tại đây. Riêng ở Việt Nam, Hoa Kỳ và Pháp đã dựng nên chính quyền tay sai thông qua sự lựa chọn “giải pháp Bảo Đại”, do đó “cỗ xe” Bảo Đại “do Pháp kéo, Mỹ đẩy” [ĐP, tr. 187].
Ngày 30/9/1949, một phái đoàn nghị viện Hoa Kỳ được cử sang nghiên cứu việc trợ giúp Đông Dương. Ngày 28/11/1949, Hoa Kỳ chính thức mời Chính phủ quốc gia Bảo Đại sang thăm Hoa Kỳ. Trong vấn đề viện trợ cho Đông Dương, giới quân sự Hoa Kỳ, cụ thể là các tham mưu trưởng liên quân nhận định tình hình Đông Dương ngày càng xấu đi, họ gây sức ép buộc Quốc hội phê chuẩn nhanh viện trợ quân sự, kinh tế cho Pháp. Đồng thời nêu ra nguyên tắc viện trợ phải gắn liền với chương trình chính trị và kinh tế. Đầu năm 1950, Hoa Kỳ cử Philip Jessup và phái đoàn kinh tế, quân sự sang Việt Nam. Ngày 15/2/1950 Quốc hội Hoa Kỳ quyết định viện trợ cấp tốc 15 triệu USD cho chính quyền Bảo Đại. Cuối tháng 5/1950, một phái đoàn viện trợ Hoa Kỳ được quyết định thành lập có trụ sở tại Sài Gòn. Tháng 9/1950, phái đoàn cố vấn quân sự Hoa Kỳ (MAAG) được thành lập ở Việt Nam.
Từ tháng 7 - 8/1950, những chuyến hàng viện trợ đầu tiên đã cập bến Sài Gòn. Tiếp theo “những khoản viện trợ cấp tốc 25,5 triệu USD (được thực hiện từ tháng 6/1950), ngày 20/10/1950 Hoa Kỳ lại chấp thuận một khoản viện trợ bổ sung 275 triệu USD chiến phí đồng thời các chuyến hàng viện trợ ồ ạt cập bến cảng Việt Nam” [PTN, tr. 205].
Ngày 7/9/1951, Hội nghị hợp tác kinh tế giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính quyền Bảo Đại đã đi đến một văn bản quy định Hoa Kỳ sẽ viện trợ kinh tế và kỹ thuật trực tiếp cho Chính quyền Bảo Đại với tên gọi “Hiệp ước Hợp tác kinh tế Việt - Mỹ”. Sau khi hiệp định trên được ký kết, viện trợ của Hoa Kỳ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong ngân sách của Pháp ở Đông Dương “năm 1950 viện trợ của Hoa Kỳ là 50 tỷ France, bằng 19% ngân sách Pháp ở Đông Dương; năm 1951 là 62 tỷ, bằng 20%; năm 1952 tăng lên 200 tỷ, bằng 35%; năm 1953 là 285 tỷ, bằng 43%; năm 1954 là 555 tỷ, bằng 73%. Trong tài khoá năm 1954, Hoa Kỳ viện trợ thêm cho Pháp 1 tỷ USD” [PTN, tr. 206]. Tuy nhiên, diễn biến thực tế trên chiến trường Đông Dương lại cho thấy liều thuốc viện trợ cũng như hoạt động của hệ thống cố vấn Hoa Kỳ ở Đông Dương tỏ ra kém hiệu lực, không phát huy được tác dụng trong việc đánh thắng cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam.
Tuy viện trợ của Hoa Kỳ cho thực dân Pháp và Chính phủ Bảo Đại đã không làm thay đổi cục diện trên chiến trường, nhưng tác động của nó lên đời sống xã hội Việt Nam ngày càng hiện rõ. Từ đây, người Việt Nam ngày càng nghe nói nhiều đến viện trợ Hoa Kỳ và trực tiếp tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa viện trợ Hoa Kỳ. Điều đó có thể nhận thấy trên bức tranh xã hội Việt Nam: “Ở các đô thị do Pháp chiếm đóng, người ta bắt đầu thấy ngày càng nhiều sữa bột Guigoz, bột Ovemaltine, rượu Whisky, thuốc lá Philip, bút máy Parker. Những thứ đó từ các đô thị bắt đầu lan ra tận các thị trấn nhỏ và các chợ nông thôn” [ĐP, tr. 23]. Trên các ngã đường hành quân của quân đội Pháp, người ta thấy những xe GMC chở lính Pháp mang súng Mỹ, “Qua mỗi năm viện trợ Mỹ một tăng lên nhanh chóng, dần dần nó trở thành nguồn cung cấp chủ yếu cho cuộc chiến tranh của Pháp. Theo tính toán của Pháp, viện trợ Mỹ đã chiếm 80% chiến phí của Pháp: tổng cộng khoảng 1.700 triệu USD” [ĐP, tr. 23].
Từ năm 1950 – 1954, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Chính phủ Bảo Đại 23 triệu USD bằng hàng hoá và khoảng 36 triệu USD bằng tiền Việt Nam (Hoa Kỳ có số tiền này do bán hàng, dịch vụ và do Chính quyền Bảo Đại đã cung cấp cho Hoa Kỳ một số ngân khoản để chi tiêu. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn viện trợ thẳng cho Bảo Đại khoảng 15 triệu USD vũ khí, “tuy nhiên, tổng số các loại viện trợ này, khoảng 75 triệu USD vẫn còn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với số viện trợ cho Pháp” [ĐP, tr. 26].
Với tổng số viện trợ chiếm 80% chiến phí chiến tranh xâm lược Đông Dương, trên thực tế, Hoa Kỳ đã biến cuộc chiến tranh của Pháp thành cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ, biến người bạn đồng minh thành kẻ đánh thuê, xâm lược thuê cho họ.
3.2. Viện trợ Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam (1954 - 1975)
Cũng như giai đoạn trước, trong giai đoạn 1954 - 1975, viện trợ của Hoa Kỳ ở Việt Nam không đúng với mục tiêu của khái niệm viện trợ phát triển chính thức do George C. Marshall khởi xướng năm 1947. Với mục tiêu ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và làn sóng “chủ nghĩa cộng sản”, quyết tâm của Hoa Kỳ đã được khẳng định trong tài liệu mật của Lầu Năm Góc: “Mỹ phải giữ lấy miền Nam Việt Nam, y như đã giữ Nam Triều Tiên và Đài Loan. Ba vùng đó có một tầm quan trọng quyết định đến vị trí của Mỹ ở Đông Nam Á” [ĐP, tr. 15 - 17].
Do đó, mục tiêu của viện trợ Hoa Kỳ tại Việt Nam giai đoạn này là để nuôi dưỡng bộ máy chính quyền bản xứ, thông qua các khoản tiền lương, bổng lộc để nuôi sống bộ máy chính quyền, cảnh sát, quân đội khổng lồ. Có vô số những cai, đội và lính trơn thời Pháp đã được thăng vọt lên cấp uý và cấp tá, “với vài ba trăm triệu USD hàng năm (1954 - 1960) mà dựng được cả bộ máy chính quyền bản xứ, nuôi dưỡng và sử dụng được hàng chục vạn quân đánh thuê là một giá rẻ, nếu thuê Pháp làm việc đó (điều mà Hoa Kỳ đã làm) thì đắt hơn” [ĐP, tr. 31].
Viện trợ và các chi phí của Hoa Kỳ lấy từ ngân sách, ngân sách là tiền đóng góp của nhân dân Hoa Kỳ thông qua thuế, nhưng Hoa Kỳ không đem thẳng tiền mặt cấp cho một nước nào nhận viện trợ cả. Viện trợ hay chi phí đều bằng hàng hoá mua của các công ty Hoa Kỳ vì vậy, viện trợ chỉ là cơ hội để lấy tiền túi của nhân dân Hoa Kỳ bỏ vào túi tư bản Hoa Kỳ.
Nam Triều Tiên là 1 nước bại trận. Sau bao nhiêu đô hộ bởi Nhật Bản, Triều Tiên bị chia cắt làm 2. Cuộc chiến 1950s đã làm kinh tế trì trệ. Xung quanh Seoul vào thời điểm này, không có nổi 1 động vât nào tồn tại. Bởi nếu nó tồn tại thì đã trở thành 1 món ăn tối hạnh phuc cho 1 gia dình may mắn.
Sau năm 1953, Mĩ đổ 3 tỉ USD thời gian hiện giờ là 53 tỉ USD. Số tiền nhanh chóng bay và tan biến như số tiền đổ vào bất cứ đất nước châu Phi nào. Tổng thống hiện giờ là Syngman Rhee với người vợ Italian. Trong số tiền 3 tỉ đô đó, 2,2 tỉ đã bị lãng phí vào việc vớ vẩn. 0,8 đã được chia đều cho các nhà chính trị.
Năm 1960, Nam Hàn với GDP trên đầu người là 155 USD (có vài sources nói là dưới 155 USD).

Năm 1961, Pác Chung Hi, lật đổ chính quyền. Việc đầu tiên ông làm là xử tử 24 quan chức và doanh nhân liên quan đến việc tham nhũng. Việc thứ 2 là bình thường hóa quan hệ với Nhật.
Nhật là ai? Đất nước là giết hơn mấy triệu người dân Triều Tiên. Gái Triều Tiên bị hiếp liên tục. Những đứa bé quá nhỏ thì sẽ bị dùng dao xẻ chỗ ấy to ấy để tiện việc. Trong gia đình cả nhà đang ăn, nếu linh Nhật nhảy vào, bố sẽ làm chuyện ấy với con gái. Con trai phải làm chuyện ấy với mẹ
Dự án Maruta bao gồm dự án 731, 738, tạo ra những nhà chứa gas giết gần 800.000 người Triều Tiên và Trung Quốc. Nhật đồng thời tạo ra chất hóa học để tiêm vào những đứa bé xem những đứa bé sẽ lớn lên thế nào khiến cho 1 bộ phận người
Nam Triều Tiên sống cả cuộc đời quái thai về tính cách và hình dạng.
Đối với người Châu Á thì không có gì nhục hơn việc cúi đầu trước kẻ thù, v
iệc Pác Chung Hi làm vậy là bắt 33 triệu dân Nam Triều Tiên cúi đầu xin xỏ từ kẻ thống trị Nhật Bản.
Pác Chung Hi mang văn hóa quân đội vào phong cách làm việc của nước này. Mọi người đều phải làm việc hết sức mình. Ai mà làm không chăm sẽ bị phê bình trước mặt mọi người. Sẽ bị tát vào đầu (vẫn rất phổ biến hiện giờ). Rồi bị chửi nặng nề. Thời bây giờ, người ta coi trọng danh dự bây giờ rất nhiều. Và người bị chửi sẽ nói là " vâng, tôi sẽ cố gắng hơn." Một số ngành do quân đội xây dựng, khi người lính làm việc không chăm, cấp trên có quyền bắn chết và đem ra trước mọi người như minh chứng của sự lười biếng. Sự lười biếng đồng nghĩa với phản công.
Những người dân
Nam Triều Tiên với chiều cao tầm 1m5 1m6 thời bây giờ làm việc quần quật từ sáng dến tối. Người vợ Nam Triều Tiên làm lụng thêm đẻ nuôi gia đình. 2 vợ chồng có chút thịt , mỡ, thì dành hơn cho con cái (không khác gì Việt Nam). Ai cũng dạy con mình là Nếu biết nhục cho đất nước, nếu biết thương bố mẹ, thì học cho giỏi.

Ttừ năm 1960 đến 1970, lương hầu như không tăng. Những người Nam Triều Tiên ăn cơm với kimchi (khác gì Việt Nam ăn cơm với dưa khú). Lương lúc này từ 155 tăng lên 288 sau 10 năm. Dân Nam Triều Tiên không từ bỏ. Những đứa con Nam Triều Tiên không phụ lòng bố mẹ. Họ ra đời rất nhiều kĩ sư, thợ điện,... rất giỏi. Những đứa con học từ Mỹ không lưu ở xứ người mà sẵn sàng về nước làm lại từ đầu. Kết quả là người Nam Triều Tiên có đủ người để phát triển công nghiệp nặng và hóa học.
Nhưng thiếu tiền!

Pác Chung Hi gửi 320.000 quân đến Việt Nam để đổi lấy 10 tỉ tiền từ Mĩ. Bảo vệ nước Nam Triều Tiên bấy giờ là 20.000 quân chính quy. Mĩ và Nhật bản lo sốt vó nếu Triều Tiên tấn công. Pác Chung Hi sau này viết trong nhật ký là bọn "yankee bastard" và bọn phát xít (Nhật) không bao giờ có thể hiểu là người dân Nam Triều Tiên sẵn sàng đánh cược mạng sống của họ để phát triển kinh tế.
Trải qua 21 năm, khối lượng viện trợ Hoa Kỳ cho Nam Việt Nam là rất lớn, đó là chưa tính đến phí tổn chiến tranh, chỉ riêng viện trợ kinh tế cho Chính quyền Sài Gòn lên đến 26 tỷ USD. Đây là con số cao nhất so với viện trợ Hoa Kỳ tại bất cứ nước nào khác trên thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nếu chúng ta đem so sánh số lượng viện trợ Hoa Kỳ ở Nam Việt Nam với một số nước sẽ thấy rõ sự vượt trội đó: Ấn Độ, trong 20 năm (1950 - 1970) đã nhận được tổng số viện trợ của Hoa Kỳ là 9,3 tỷ USD; Philippines trong 22 năm viện trợ gần 2 tỷ USD (1945 - 1967); Thái Lan nhận được gần 1,2 tỷ USD, Inđonesia nhận được gần 1 tỷ USD. Ở châu Phi, tính trong 25 năm (1946 - 1970) tổng số viện trợ Hoa Kỳ cho tất cả các nước là 4,9 tỷ USD. Tại miền Nam Việt Nam, “thu nhập quốc dân chưa bao giờ vượt quá 2 tỷ USD/năm, nhưng trong 5 năm cuối cùng (1971 - 1975) viện trợ Hoa Kỳ hằng năm hơn 2 tỷ USD/năm, tức là lớn hơn tổng số của cải do miền Nam Việt Nam làm ra” [ĐP, tr. 66].
Mặt khác, số lượng viện trợ Hoa Kỳ thay đổi theo cường độ chiến tranh xâm lược và tỷ lệ rất cao của viện trợ cho không tại miền Nam Việt Nam là một hiện tượng không phổ biến. Đối với hoạt động thương mại và đầu tư, giai đoạn này “viện trợ không phải là biện pháp chủ yếu thực hiện mục tiêu của chính sách thương mại, song nó cũng là một biện pháp sử dụng kết hợp để mở rộng thương mại và đầu tư” [VĐH, tr. 176]. Điều này có thể đúng một phần ở khía cạnh nền kinh tế Hoa Kỳ, bởi lẽ trong thời kỳ chiến tranh, việc tiêu thụ hàng hoá không những không gặp trở ngại mà lại có thêm điều kiện để mở rộng. Số viện trợ hàng chục tỷ USD và toàn bộ số phí tổn hàng trăm tỷ USD, suy cho cùng cũng là sự tiêu thụ một khối lượng hàng hoá khổng lồ.
Vì vậy, “phần lớn những khoản gọi là chi phí cho Việt Nam, thực ra lại là chi phí cho Hoa Kỳ. Phần lớn cái gọi là viện trợ cho Việt Nam thực ra lại rơi vào túi tư bản Hoa Kỳ, trong  6,1 tỷ USD viện trợ trong tài khoá 1960 - 1961, có 4,8 tỷ USD (80%) được chi ngay ở Mỹ. Sở dĩ như vậy vì 90% ngân khoản viện trợ quân sự đã ở lại nước Mỹ. Nếu không có viện trợ xuất cảng của Mỹ sẽ tụt 12%, nông phẩm thừa tăng lên đáng sợ. Vì vậy ngoại viện thực ra là sự trợ cấp cho nền kinh tế Mỹ” [ĐP, tr. 11].
Một điều cần nhấn mạnh là, viện trợ Hoa Kỳ ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 đã không thực hiện được các mục tiêu mà họ mong muốn. Trái lại, khoản viện trợ và chi phí khổng lồ đó đã làm suy yếu nền kinh tế Hoa Kỳ. Vì vậy, viện trợ càng kéo dài, càng tăng thì phong trào phản chiến của nhân dân Hoa Kỳ càng mạnh mẽ. Tất cả các hoạt động kinh tế của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam mới nằm trong khuôn khổ của giai đoạn bình định, chưa chuyển sang giai đoạn khai thác. Do đó Hoa Kỳ đầu tư và tốn kém nhiều nhưng chưa thu được gì, điều đó nằm ngoài ý muốn ban đầu của họ. Đồng thời, sự lún sâu và thất bại của cuộc chiến đã làm chia rẽ nội bộ đất nước Mỹ “cuộc chiến tranh 30 năm đã chấm dứt một cách đầy kịch tính, đẩy nước Mỹ vào tình trạng thất vọng và hoang mang” [NTYH, tr. 331].
Viện trợ ngần ấy tiền để làm ra GDP 150USD/người/năm! Nực cười! Vậy lịch sử viết 'phồn vinh giả tạo' là đúng rồi còn gì vì kinh tế ngụy chỉ sống được khi có nguồn viện trợ và 500 ngàn lính Mỹ ở đó chi tiêu với ít nhất là một phần tiền lương khoảng 500 USD/người/tháng thôi.  Biện hộ bằng vài hình ảnh xe hơi ở trung tâm Sài gòn là rất ngu xuẩn và phản khoa học.
https://fbcdn-photos-g-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xtf1/v/t1.0-0/11039211_1056564467692232_4700523093350447608_n.jpg?efg=eyJpIjoiYiJ9&oh=fc5764413d4fcaf752e8a0de7e4d75a0&oe=55D8719F&__gda__=1439728951_4d607eba6ec4e370a94077d5e7f92c6e Điều đó cũng như đưa ra hình ảnh một con chó được mặc quần áo đẹp rồi kết luận rằng nó giàu vậy! Dĩ nhiên khi có số lượng viện trợ trên 2 tỉ một năm ở thời điểm cao nhất và tiền lương lính Mỹ thì phải có một số người nhất định phất lên nhưng chuyện đó không thể dùng để đại diện cho sức mạnh của một nền kinh tế được!
Nếu không tính đến điều kiện tự nhiên so với Miền Bắc và Trung, như đồng bằng sông Cửu Long, đất phì nhiêu, đất rộng người thưa, phát triển cây công nghiệp, thì yếu tố thực dân Pháp đầu tư như thế nào tại Miền Nam so với Miền Bắc cần phải xem xét. VNCH cũng thừa hưởng hạ tầng cơ sở, hạ tầng công nghiệp, hạ tầng kinh doanh từ thời Pháp thuộc.
Nhìn toàn cảnh về 1 nền kinh tế cần có các chỉ số, tiếc là thời VNCH không có các con số như vậy. Ví dụ chỉ số công nghiệp/nông nghiệp/dịch vụ trong cơ cấu kinh tế. Tỷ lệ giàu nghèo của xh, chi phí cho các vấn đề xh, nguồn thu ngân sách v.v. Có những xh có 1 số rất nhỏ rất giàu, nhưng đổi lại có biết bao nhiêu người rất nghèo. Con số GDP trên đầu người chưa phản ánh được nhiều.
Có 1 con số theo the Pentagon Papers là: As of 1960, 45% of the land remained concentrated in the hands of 2% of landowners, and 15% of the landlords owned 75% of all the land. - 45% đất đai nằm trong tay 2% địa chủ, 75% tổng số đất dai nằm trong tay 15% địa chủ. Mà đa phần dân Miền Nam nói riêng, VN nói chung thời kì đó là sống bằng nông nghiệp.
Nếu giàu vì thực lực thì mới là giàu thật, còn nhờ ăn bám nhà giàu ở một khoảng thòi gian nhất định mà có bề ngoài bóng bẩy tí thì gọi là 'phồn vinh giả tạo' là hoàn toàn chính xác rồi còn gì?
4- Sánh vai cùng các cường quốc năm châu
Dữ liệu từ wikipedia của Ngân hàng TG cho thấy từ năm 1960 GDP đầu người của Singapore đã gần gấp đôi VNCH và tiếp tục phát triển đều cho đến 1975 thì thành gấp 58 lần! Có thằng đồn thập niên 1960 Sing còn là nhà quê và LQD mơ ước Sing bằng được SG, như vậy mà cũng có khối thằng ngu nghe được! Theo logic thì có hai khả năng xảy ra ở đây, một là LQD bị mát dây, hai là có thằng nào đó chém gió mạnh quá thành bão luôn!
Từ 1960 đến 1963, khi Mỹ chưa đổ quân vào và do đó chưa có chiến tranh lan rộng tàn phá, ảnh hưởng lên nền kinh tế, GDP đầu người VNCH tự giảm đi một nửa và coi như dậm chân tại chỗ luôn sau đó. Đặc biệt là sau khi quân Mỹ cơ bản đã rút gần hết vào năm 1973 thì GDP đã đâm thằng xuống vực từ 200 USD xuống còn 89 USD và đến năm 1975 thì còn 44 USD trong lúc miền Bắc là 95 USD.
Có viện trợ dồi dào của Mỹ cộng với tiền lính Mỹ tiêu xài mà kinh tế èo uột như thế thì đúng ra là quản lý rất tệ.  Lạm phát năm 1973 là 200%! Bó tay với cái 'nền kinh tế mạnh nhất châu Á' của 'hòn' thật! Đây, VNCH quang vinh giàu có của chúng ta từ năm 1950-1970 nằm dưới cả Thái - In - Myan - Malay.

Biểu đồ này nằm trong tường trình của giáo sư Jean Pascal Bassino thuộc trường Ðại Học Paul Valery, Montpellier, Pháp Quốc, nói về kinh tế của Nam và Bắc Việt Nam, trước 1975, và có sự so sánh với các quốc gia trong vùng. Trong đó có đoạn:
The most important results are the following. South Vietnam per capita GDP appears as one of the highest of Asia at the end of the 19th century, close to Japan and the Philippines, higher than the figures for Taiwan, Korea, Indonesia, and Thailand. However, it is one of the lowest in the 1960s.
Tạm dịch: Kết quả quan trọng nhất (của phân tích của Madison - 1995)) là GDP đầu người của Nam Việt Nam cuối THẾ KỶ 19 vào loại cao nhất châu Á, ngang ngửa với Nhật - Phi, cao hơn Đài - Hàn - In - Thái; tuy nhiên, GDP đầu người của Nam Việt Nam trong thập kỷ 1960 đã giảm xuống, trở thành một trong những mức thấp nhất châu Á.

Trong những năm 1969-70 Nam Triều Tiên đã từng xây xa lộ ở VNCH và từng được mang tên Xa lộ Đại Hàn. Thời đó, trình độ công nghệ cầu đường của họ đã hơn hẳn VN (không tính miền Bắc VN). Năm 1972 họ từng xây dựng bệnh viện Bệnh viện Chợ Quán.
Năm 1974, Pác Chung Hi bị ám sát nhưng tránh được. Vợ thì bị ăn đạn. Thương vợ là thế (dù có bồ bịch sau này) nhưng Pác Chung Hi vài phút sau vẫn đứng lên diễn thuyết trong công chứng. Vợ thì chết một mình. Sau khi vợ chết vài tiếng, thì Pác Chung Hi mới đến thăm được xác. Thủ phạm gốc North Korean nhưng lại sinh sống ở Nhật. Pác Chung Hi đòi Nhật xin lỗi thì sứ giả không chịu xin lỗi. Pác Chung Hi sau viết vào nhật ký nói là nếu vợ của thủ tướng Trung Quốc mà bị ăn đạn thì thủ tướng Nhật đã quy gối lê lết từ Tokyo đến Bắc Kinh. Nhục quá Nhật khinh thường Nam Triều Tiên quá.
Những năm này, học sinh
Nam Triều Tiên liên tục biểu tình giống như Lybia, Thái Lan, các nước Nam Mĩ và giống lũ vichoco. Pác đán áp hết. Học sinh phản động thì bắn. Cả trường phản động thì bắt đi lính đẩy lên biên cương. Nhờ vậy mà kinh tế Nam Triều Tiên không bị ảnh hưởng , dân làm việc hết năng suất.
Tài liệu của World Bank cho thấy rõ ràng năm 1975, Nam Triều Tiên có GDP cao hơn Việt Nam. Theo số liệu của World Bank World Development Indicators do nhóm Oxford Economic Forecasting phân tích, thì năm GDP của Nam Triều Tiên năm 1975 là 100 tỉ USD (tính theo giá trị năm 2010), cao gấp 5.5 lần so với VN (lúc đó ước tính là 18.1 tỉ USD).  Cũng năm 1975, GDP của Thái Lan là 43.2 tỉ USD, tức đã hơn gấp 2 lần VN.
Theo tính toán của WB thì GDP đầu người năm 1975 của Nam Triều Tiên là 646 USD (thời giá 2010), Thái Lan là 351 USD. Đầu thạp niên 1980, Thái Lan hơn miền Nam rất xa. Thủ đô Bangkok của họ đã hơn hẳn Sài Gòn về qui mô và trình độ phát triển, gọi Sài Gòn là "Hòn ngọc Viễn Đông" chỉ là một cách tự ru ngủ mà thôi.
Park sau này bị ám sát vì câu nói 3.000 mạng là cái gì. 30.000 mạng cũng được để đổi lấy trật tự cho Cholla dể phát triển. Giám đốc KCIA nghe câu đó mà sợ. Park vì nỗi nhục đất nước (bị Tổng thống Mĩ ra sức ép này nọ, nỗi nhục vì Nhật) mà sẵn sàng theo đuổi chương trình bom nguyên tử. Vì chương trình bom nguyển tử sẽ tổn hại cho đất nước, nên giảm đốc KCIA lo ngại tương lai của Nam Triều Tiên mà bắn chết Park. Park chết nhưng nhờ những trò đàn áp dã man, tiền lương người Nam Triều Tiên đã lên dến 1.247 usd /month vào năm 1980. Park là độc tài, giết bao người, để đổi lấy trật tự và kỉ luật. Và kết quả là người Nam Triều Tiên cứ thế mà đi lên.
Năm 1997, Nam Triều Tiên bị dính khủng hoảng kinh tế châu Á nặng nề. Chính phủ kêu goi góp vàng. Người vợ Nam Triều Tiên thì đem công hiến đất nước nhẫn cứơi. Trẻ con có cái lắc quanh chân để giữ sức khỏe cũng đem đưa. Nợ IMF 60 tỉ thì tiền vàng dân nó đóng góp 22 tỉ rồi.
Cho tới giờ, lương tối thiểu của
Nam Triều Tiên so với mức sống rất thấp, khoảng 3-5 USD/h mặc dù đời sống người Nam Triều Tiên lên đến hơn 33.000 USD 1 năm. Những đứa nào cấp dưới láo lếu vẫn bị chửi ăn đòn. Biểu tình thì không ai nghe. Những đứa nào không sống được trong nước thì chạy ra các nước châu Á khác. Kết quả 5 triệu người ở nước ngoài, khoảng 10% dân số chạy ra nước ngoài. Những đứa nào không sống nổi thì có sông Hàn ngay đó.
Nam Triều Tiên giàu vì người dân sẵn sàng hi sinh danh dự cá nhân, lợi ích cá nhân mà làm. Họ sẵn sàng đánh đổi sinh mạng để sống cho con, cho cháu. Gái điếm Nam Triều Tiên bây giờ phần lón thậm chí chỉ ngủ với trai Triều Tiên chứ nó phỉ nhổ cả Nhật, da trắng và các chủng tộc khác. Du lịch Nam Triều Tiên sẽ thấy gái điếm thì nhiều mà ngủ được với nó thì khó.
VNCH có gì?

Bố mẹ thì sống hết phần con cái. Chỉ nghĩ cái lợi trước mặt, mua nhà cửa mà nghĩ gì tới con cái? Thời VNCH, saving rate như bằng 0. Dân có bao nhiêu tiền thì tiêu bấy nhiêu, đéo tiét kiệm để dành cho con cái gì cả. Gái điếm thì la liệt. Dân thì lười biếng đéo chịu làm việc. Tiền Mĩ nó đổ 1 năm vào VNCH thì phải gấp mấy lần nó đổ vào Nam Triều Tiên. Về giáo dục đại chúng, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, năm 1973, tỉ lệ dân số biết đọc, biết viết là 70%, rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó. - Nếu vậy, sao sau Giải phóng, Cách mạng lại phải cố gắng đẩy mạnh Giáo dục và Xoá mù chữ ở Nam Bộ?
Ấy thế mà nhiều người vẫn nghe theo kiểu tuyên truyền chống cộng thời chiến tranh lạnh bằng vài tấm ảnh và nhai lại như những con vẹt. Vậy VN còn lạc hậu là đúng rồi còn gì vì có rất nhiều người như vậy, vẫn chưa biết dùng bộ óc người để suy luận một cách logic, tự biết tìm tòi dữ liệu chuyên môn để có thể đưa ra một kết luận chính xác.  Bất mãn chế độ thì tự nhiên lại quay sang xét lại lịch sử dùng thông tin của thành phần mang hận thù trở thành ngu muội ở hải ngoại!
Vậy ngu hơn cả ngu thì làm giàu thế nào được đây?!

4 nhận xét:

  1. Những giả định của bạn Vi Toàn Nghĩa cần phải được giải đáp thấu đáo bằng ý kiến của các chuyên gia, tiếc thay, cơ chế chúng ta trước nay lại chưa có những tiền lệ như vậy. Nhưng trong thời đại thông tin rộng khắp này, vấn đề gì mà người dân không thể dự bàn, và nào phải là khó trong việc tra tìm tư liệu, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh cũng như đến vận mạng sống còn của Tổ quốc. BVN đăng ý kiến này cốt để đánh động các nhà chấp chính, mong họ thay đổi lối tư duy cũ kỹ, chuyện gì cũng cứ toàn quyền định đoạt mà không thèm hỏi ý dân, hoặc chỉ hỏi lấy lệ, đến khi hậu quả phải trả giá thì dân lại è cổ ra gánh chịu.

    Bauxite Việt Nam

    Trả lờiXóa
  2. Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa

    Nghe nói ta đã mua được tầu ngầm để bảo vệ đất nước - mừng quá -mừng như hôm được biết nước mình sẽ có điện hạt nhân. Tò mò muốn xem hải quân ta sẽ có tầu ngầm gì ? mới tra vào google-tau ngam ki lo. Đọc tính năng kỹ thuật chiến đấu của ki lô đã thấy ngờ ngợ, vội đi tìm bằng được cái bản đồ VN tỉ lệ 1/ 2 200 000 của Cục bản đồ mới giật mình, té ra cái ngờ ngợ của mình là đúng: TOÀN BỘ VỊNH BẮC BỘ KHÔNG ĐỦ CHIỀU SÂU CHO KI LÔ TÁC CHIẾN. KI LÔ loại tầu ngầm điện - diezen chiều sâu lặn MAX =300 m - độ sâu tác chiến = 240 - 250 m vậy mà ra quá đảo HẢI NAM độ sâu của vịnh BẮC BỘ vẫn chưa đầy 200 met. Tàu ngầm là thiết bị định vị và lái bằng âm thanh (sona) không thể đi sát đáy biển được với độ sâu 100 - 150 met sẽ bị phát hiện ngay (bằng tàu hoặc máy bay săn ngầm - google - tàu ngầm và vũ khí chống tầu ngầm), khi bị phát hiện với phương tiện chống tàu ngầm hiện nay, việc thoát chết chỉ còn do Chúa quyết định. Thế là mừng hụt, lại còn nỗi lo cho các chiến sỹ điều khiển nó.

    Tiện bản đồ VN tôi bèn tra ra tại địa điểm chúng ta định đặt 2 nhà máy điện hạt nhân lại là nơi độ sâu thềm lục địa vào gần bờ nhất - tại 11độ 40phút vĩ tuyến Bắc 109 độ 00 kinh tuyến Đông - ngang với địa điểm đặt 2 nhà máy đến độ sâu 1500 mét chỉ còn cách 80 -100 km “độ sâu cho phép tầu ngầm nguyên tử hoạt động”. Thế này thì tàu ngầm của họ đến tận đầu giường của mình rồi. Với khoảng cách này tên lửa được định vị bằng vệ tinh bắn chỉ chệch mục tiêu 0,5 m. Đây là chưa nói đến TRƯỜNG SA rất thích hợp cho căn cứ tàu ngầm “độ sâu lớn hơn HOÀNG SA”. Vậy là trong hoàn cảnh đất nước đang rập rình những hiểm họa từ phương Bắc tới như hiện nay, biết đâu việc xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận, ta có thể đã mua 2 quả bom hạt nhân về nhà và nhờ ông hàng xóm sang ấn nút.

    Ôi thế là một lần nữa xem ra lại mừng hụt .
    http://boxitvn.blogspot.com/2010/05/phai-chang-la-mung-hut.html

    Trả lờiXóa
  3. Chắc Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa và các nhà "trí thức bọ xít" không biết tiếng Nga nên không đọc bản tin của RIA Novosti:

    "Việt Nam hiện tại đang là một trong những nước nhập khẩu vũ khí của Nga nhiều nhất, cùng với Ấn Độ, Algeria và Trung Quốc.[..] Năm 2009 Việt Nam là nước nhập khẩu các loại vũ khí của Nga nhiều nhất, các hợp đồng bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo kiểu 636 trị giá 4 tỉ USD và 8 máy bay Su-30MK2 trị giá 400 triệu USD.[...] Tàu ngầm lớp Kilo kiểu 636 là một trong những tàu ngầm hoạt động yên lặng nhất thế giới, được thiết kế đặc biệt cho mục đích tiêu diệt tàu nổi và tàu ngầm ở những vùng nước cạn." RIA Novosti, ngày 10/2/2010

    Chưa kể thời đại thông tin rộng khắp này, và nào phải là khó trong việc tra tìm tư liệu, không biết các vị "trí thức bọ xít" có biết đường tham khảo các nguồn thông tin quân sự tiếng Việt trước khi viết bài hay không?

    Hay chỉ lo ăn tiền của "Nhà yêu nước Mỹ" Phùng Liên Đoàn mà phồng mang trợn mỏ "cốt để đánh động các nhà chấp chính, mong họ thay đổi lối tư duy cũ kỹ, chuyện gì cũng cứ toàn quyền định đoạt mà không thèm hỏi ý dân, hoặc chỉ hỏi lấy lệ, đến khi hậu quả phải trả giá thì dân lại è cổ ra gánh chịu."

    BEO bloger trong bài NÓNG THẬT viết: "Mỗi cái lát đá quanh Hồ Gươm, đồng bộ ba bốn loại gạch thời Lý Lân Dũng lổn nhổn, rồi cũng phải dừng lại lấy ý kiến dân. Mà dân thì năm người mười ý, chênh nhau từ thằng Mỹ học Lào học đến Củ chi học. Chuyện vặt thế mà còn chờ số đông gật mới dám làm hỏi bản lĩnh nào dám quyết việc lớn." http://vn.360plus.yahoo.com/thuhong_1960/article?mid=1627

    Bó một số thứ với các vị "trí thức bọ xít"!

    Trả lờiXóa
  4. "Bó một số thứ với các vị "trí thức bọ xít"!"

    Heheeee

    Trả lờiXóa